Thứ Ba, 19 tháng 6, 2012

60 năm - Phan Đình Phùng họp mặt

Gần một đời người...

Năm 1952 ra đi từ mái trường Phan Đình Phùng náu mình dưới chân ngọn Tùng Lĩnh, bên bờ dòng sông La, những chàng trai cô gái ra đi ...hòa nhập muôn phương...Và hôm nay, 60 năm sau tìm về với nhau để nhắc lại một thời sôi nổi, một thời hồn nhiên, một thời xây bao mộng ước. Những mái đầu xanh nay đều bạc trắng, nhưng gặp nhau bỗng lại dạt dào cảm xúc  của thời hoa niên, thời tươi đẹp không bao giờ trở lại.


 








Ánh dương chiều trời xế, sáng mai lại về đàng đông,
Cánh hoa phù dung héo. sang xuân lại về tràn màu hồng.
Đời người ta có khác, xin đừng phí tháng ngày đi:
Tuổi xuân qua, đã qua không bao giờ trở về! 

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

Thuở ấy...

THUỞ ẤY…

Nhìn thấy trước nhu cầu bức thiết của việc đào tạo một lớp cán bộ trí thức nòng cốt – những cỗ máy cái – chuẩn bị cho việc mở rộng đào tạo nhân lực có trình độ cao phục vụ cho đất nước sau này, trong điều kiện cả nước đang có chiến tranh ác liệt, đầu tháng 02/1950 khi gặp Chủ tịch Mao Trạch Đông tại Moskva (Liên Xô cũ), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị phía Trung Quốc giúp đỡ, tìm một nơi có điều kiện, hoàn cảnh gần tương đồng với Việt Nam lúc đó, xây dựng một cơ sở giáo dục đào tạo thanh thiếu niên tiến đến đào tạo một đội ngũ cán bộ khoa học cơ bản nhằm tạo chuẩn bị sẵn sàng cho việc triển khai bậc đào tạo đại học ở Việt Nam ngay khi tiếng súng chấm dứt. Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nhận lời và hứa hẹn: "Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam". Ngay sau đó Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trực tiếp chỉ thị cho Tỉnh Ủy Quảng Tây (sau này là Khu tự trị Choang) tích cực chuẩn bị thành lập một Khu học xá Trung ương của Việt Nam lấy tên là Dục tài học hiệu – Nhà trường nuôi dưỡng tài năng.
Đầu năm 1951, chỉ có một số lớp Tiểu học, Trung  học Phổ thông, tiếp nhận một số nhỏ con em cán bộ, bộ đội, phần lớn đang công tác tại Việt Bắc, do hoàn cảnh chiến tranh ác liệt không có điều kiện học tập. Trường tạm đặt tại làng Tâm Hư, một thị tứ nhỏ bé hẻo lánh và nghèo nàn trong tỉnh Quảng Tây cách thành phố Nam Ninh chừng 10 km, là nơi sinh sống của người dân tộc Choang, đời sống của nhân dân địa phương còn rất khó khăn, lạc hậu. Đây là vùng mới được giải phóng và đang phải tiến hành việc truy lùng tiễu phỉ - 60 vạn tàn quân Quốc dân đảng ẩn náu trong dãy Thập vạn đại sơn – cho nên điều kiện sinh hoạt của người dân trong vùng còn rất khổ cực, thiếu thốn mọi mặt. Trung Quốc cũng mới ra khỏi cuộc nội chiến đẫm máu, đất nước còn vô vàn khó khăn... Ban đầu, các học viên học trong những nhà tranh vách đất, ở trong những lều bạt mới được dựng lên tạm bợ. Lớp học không có bàn ghế, mỗi học viên được phát một tấm bảng con làm bàn (kê lên đầu gối để viết) và một chiếc ghế đẩu nhỏ vừa để ngồi học, vừa để ăn cơm, hội họp hoặc xem phim... Bảng viết của giáo viên thì được ghép từ những tấm ván rồi phết sơn đen. Khó khăn là thế, song tinh thần học tập anh chị em học viên đều nghiêm túc, với quyết tâm thu nhận, tích lũy kiến thức để phụng sự Tổ quốc. 



Học viện dân tộc Khu tự trị Choang - Quảng Tây - Ảnh 2008

Cuối năm 1951 sang 1952-53, Chính phủ Trung Quốc cho xây dựng một Khu học xá qui mô rất lớn ở ngoại thành Nam Ninh – thủ phủ Quảng Tây làm cơ sở cho Dục Tài học hiệu (ngày nay là cơ sở của Trường Học viện dân tộc Quảng Tây). Dục tài học hiệu – tên tiếng Việt là Khu học xá Trung ương - được sự đảm bảo mọi mặt quản lý về hậu cần, tài chính… của một cơ quan gọi là Tổng Vụ Khoa do Tỉnh ủy, chính quyền và Bộ Giáo dục Quảng Tây cử ra, để độc lập quản lý toàn dịên về mặt chuyên môn và tổ chức, Trung ương Đảng và Chính phủ, Bộ Giáo dục Việt Nam cử Thầy Võ Thuần Nho (Em trai của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhà giáo lâu năm có kinh nghiệm và có uy tín) làm Giám đốc Khu học xá Trung ương.
Sang năm 1952 tại Khu Học xá Trung ương  ngoài 1 trường Tiểu học, 1 trường Trung học (cấp II và cấp III) trên cơ sở các trường Thiếu nhi ở Tâm Hư chuyển về, có thêm 1 trường Sư phạm sơ cấp (đào tạo giáo viên tiểu học), 1 trường Sư phạm trung cấp (đào tạo giáo viên cấp II), 1 trường dạy tiếng Trung với 2 ban: Ban Phiên dịch và Ban Sư phạm và đặc biệt có thêm 1 lớp Khoa học cơ bản. Lớp KHCB chỉ đào tạo trong 1 năm, sau đó một số về nước công tác trong một số ngành khoa học và công nghệ như khí tượng thủy văn, quân giới v..v.. một số được giữ lại bồi dưỡng tiếp để phục vụ công tác tại chỗ (một số nhà giáo và nhà khoa học như: Nguyễn Đinh Tứ, Nguyễn Hoàng Phương, Đinh Ngọc Lân… và nhiều người khác nữa đều xuất thân từ lớp KHCB này). Năm 1953, qui mô đào tạo bậc đại học được mở rộng với việc thành lập trường Sư phạm Cao cấp do Thầy Lê Văn Thiêm làm hiệu trưởng, với hai lớp Sư Cao Toán Lý và Sư Cao Hóa Vạn, chọn lọc một số học sinh trong nước đã tốt nghiệp Tú tài, Dự bị đại học hoặc Phổ thông Trung học – qua Bổ túc - thời gian đào tạo là 2 năm.




Đoàn quân áo xanh từ Nam Ninh về "tiếp quản" Hà Nội
Ngày 20/7/1954, Hiệp định Pa-ri được ký kết, Thầy và Trò trường Sư phạm cao cấp được lệnh gấp rút hoàn thành chương trình đào tạo để kịp thời về nước nhận nhiệm vụ trước ngày Thủ đô hoàn toàn giải phóng 10/10/1955. Hơn 100 thầy trò đi tầu hỏa từ Nam Ninh về Bằng Tường rồi lên xe tải bít bùng chở sang Đồng Đăng. Đến Đồng Đăng thì chuyển sang  các xe Molotova của bộ đội chạy thẳng một lèo về Hà Nội.  Về đến Hà Nội mới được biết là toàn bộ sinh viên tốt nghiệp sẽ chưa phân công công tác ngay mà được giữ lại học thêm 1 năm chuẩn bị cho nhiệm vụ đặc biệt (!?). Sinh viên Sư cao Toán Lý cũ chia làm hai, một số sang ngành Vật lý còn lại cùng với một vài sinh viên tốt nghiệp Đại học Sư phạm và Cử nhân khoa học (trong nội thành cũ) hình thành LỚP TOÁN III.
Số chuyển từ Sư cao Toán Lý về có 19 người:
1.      Lê Khắc Bảo
2.      Hoàng Ngọc Cầu
3.      Lê Minh Châu
4.      Đinh Nho Chương
5.      Kim Cuông
6.      Tô Xuân Dũng
7.      Phạm Dự
8.      Nguyễn Đình Hiền
9.      Nguyễn Trọng Nhuận
10.  Lê Thiện Phố
11.  Lê Phương
12.  Đoàn Quỳnh
13.  Phan Thanh Quang
14.  Lê San
15.  Thái Thanh Sơn
16.  Lại Đức Thịnh
17.  Nguyễn Văn Thiêm
18.  Trần Mậu Thưởng
19.  Nguyễn Đình Trí
Từ Dự bị đại học Thanh Hóa ra có 2 người:
1.      Trần Văn Hãn
2.      Nguyễn Hồ Quỳnh
Cộng thêm vào là 5 người từ Trường Đại học sư phạm và Đại học khoa học thuộc Viện Đại học Hà Nội (trong vùng tạm chiếm cũ):
1.      Tạ Văn Đĩnh
2.      Nguyễn Thừa Hợp
3.      Phan Bá Ngọc
4.      Nguyễn Mỹ Quý
5.      Hoàng Công Tín
(Thực ra dự học ở Toán III  còn có Nguyễn Bác Văn sau này ra công tác sớm và Phạm Hoàng Khương không tốt nghiệp cùng khóa với anh em khác)

                                 
Viện Đại học Hà Nội - 1955
Chương trình đào tạo ở lớp này thật là “mềm dẻo”, chủ yếu là “có Thầy nào thì học môn đó”!  Thầy Lê Văn Thiêm dạy Hàm biến phức và các biến hình bảo giác, may mắn về Hà Nội Thầy lại được bạn cũ ở Đức gửi về cho mấy quyển sách và mấy bản tóm tắt luận án của Thầy: thế là đưa luôn vào nội dung dạy – Thầy cầm cuốn Nevanlinna bằng tiếng Đức, vừa dịch vừa giảng, anh em phải cố mà “Hiểu nha!” – nhưng rồi đến lúc thi thật sự là thi vì theo quan điểm của Thầy thì “Mỗi bài toán phải là một sáng tạo nhỏ!” Có một vài kỷ niệm vui vui với Thầy Lê Văn Thiêm mà chắc không ai có thể quên. Thầy thường dịch các bài tập trong sách – rất nhiều – ra cho anh em về tự làm và ít khi chữa bài, vì theo quan niệm của Thầy thì tìm bài tập khó ra cho học trò là nhiệm vụ của Thầy còn làm bài là nhiệm vụ của trò. Có lần có bài khó quá, các đại cao thủ trong lớp đều bí, đến lớp hỏi Thầy, Thầy xem một lúc rồi thản nhiên trả lời:”Mình cũng chưa tìm được cách giải. À mà Toán thì cũng phải có bài mình không giải được chứ sao!”. Thế là thua! Thầy Ngụy Như Kontum dạy Cơ học thuần lý (Mécanique rationnelle), dân Toán vốn không ham Vật lý, cho dù là “thuần túy lý thuyết” đi chăng nữa! giọng Huế của Thầy lại ậm ừ buồn buồn, ngồi nghe chao ôi là cực! (Than ôi cái thân tôi lại vinh dự làm cán sự môn học của Thầy!). Thích nhất là được học môn Phép tính Vi tích phân – Calcul différentiel et intégral - với Thầy Nguyễn Thúc Hào. Nếu ở Thầy Lê Văn Thiêm ta học được tác phong nghiên cứu khoa học say mê, nghiêm túc, kiên trì thì ở Thầy Nguyễn Thúc Hào điểm nổi bật là phương pháp sư phạm. Quả là một bậc đại sư: học Thầy về nội dung khoa học một phần nhưng về phong cách và phương pháp sư phạm thì đến 3 phần! Cuối tiết học, Thầy vừa vứt mẩu phấn vụn, chấm dứt câu tổng kết cuối cùng thì tiếng kẻng báo giờ vừa vang lên: nhìn lên bảng còn nguyên một bản tóm tắt gọn gàng sạch sẽ. Anh nào có học qua Thầy chắc chắn sau này dù đi dạy hoặc đi báo cáo thuyết trình đều thấy ngay là có chịu ảnh hưởng của Thầy trong phương pháp trình bày, diễn đạt. Thầy Ngô Thúc Lanh dạy củng cố về Đại số học (trong Kurosh) còn Thầy Nguyễn Cảnh Toàn thì đưa anh em cùng Thầy phiêu lưu vào Hình học xạ ảnh, một ngành học xương xẩu nhưng rất lý thú, là hướng nghiên cứu mà chỉ mấy năm sau Thầy đã khai thác rất thành công cho các luận văn Kandidat rồi Doktor Nauk của Thầy. Một môn học cũng được anh em rất lưu tâm là môn Tiếng Nga. Tất cả anh em trong lớp đều có trình độ tiếng Pháp từ khá đến giỏi và rất giỏi nên phần nhiều đều sử dụng tài liệu học tiếng Nga qua tiếng Pháp – Le Russe pour les Francais. Người hướng dẫn là anh Trần Thống, một giáo viên Tiếng Nga tuy học và tốt nghiệp tại Trung quốc (Anh Thống được học với Bà giáo người Nga chính cống, vợ của Lý Lập Tam) nhưng anh là người rất năng động nên cũng gây nhiều hứng thú cho anh em, do đó kết quả không tệ: Nghe và nói thì có anh còn khó khăn nhưng đọc và viết thì tất cả đều Otlitshno! Còn lại thì tự phát rủ nhau tổ chức những séminaires lục tìm sách vở mà thuyết trình thảo luận với nhau. Có anh dở hơi đến mức như cặp Đinh Nho Chương và Thái Thanh Sơn, vớ được quyển Bài tập giải tích của Demidovitch hơn 4 nghìn bài, thế mà dám cược nhau làm từ đầu đến cuối, 1 anh làm bài số chẵn 1 anh làm bài số lẻ, xem đến khi nào có anh bỏ cuộc?  Thư viện Đại học quốc gia, thư viện khoa học, thư viện Viện Đại học hồi đó quả là kho báu vật đối với anh em Toán III. Hiệu sách ngoại văn Tràng Tiền hồi đó bỗng có một loạt khách hàng quen đặt mua sách Toán – có khi cứ mua chịu đến kỳ lĩnh học bổng mới trả vẫn được. Quen đến mức ít lâu sau cô bán sách Việt kiều Thái Lan xinh đẹp của cửa hàng đã chuyển hộ khẩu về nhà anh lớp trưởng đẹp zai Nguyễn Đình Hiền, cầu thủ bóng rổ, bóng chuyền xuất sắc của đội bóng Viện Đại học Việt nam (từng vào chung kết giải Vô địch Bóng rổ quốc gia – Miền Bắc - lần đầu tiên sau giải phóng, gặp đội Thể công sừng sỏ!)
Tháng 6 năm 1956 lớp Toán III tốt nghiệp và ngay trong lễ tốt nghiệp, Vụ trưởng Vụ Đại học và THCN là Giáo sư Hồ Đắc Di đã thông báo phân công công tác luôn cho cả khóa 25 người:
1.      Nguyễn Thừa Hợp      : về Đại học khoa học (sau này về ĐH Tổng hợp)
2.      Lại Đức Thịnh             : nt -  (sau này về ĐH SP Hà Nội)
3.      Đoàn Quỳnh               : nt -  ( sau này về ĐHSP)
4.      Nguyễn Đình Hiền      : về ĐH nông lâm
5.      Nguyễn Trọng Nhuận : nt –
6.      Lê Phương                  : về Hải Phòng
7.      Trần Mậu Thưởng       : nt
8.      Phan Thanh Quang     : về Hà Nội
9.      Lê Khắc Bảo               : về Nam Định
10.  Lê San                         : về Trung cấp sư phạm trung ương
11.  Hoàng Ngọc Cầu        : về trường Bổ túc văn hóa quân đội
12.  Phạm Đức Dự             : về Văn phòng Bộ Giáo dục
13.  Tạ Văn Đĩnh               : về Đại học Bách khoa (khi đó chưa thành lập!)
14.  Nguyễn Đình Trí         : nt –
15.  Kim Cuông                 : nt –
16.  Trần Văn Hãn             : nt – (lâu về sau chuyển vào Sài gòn)
17.  Tô Xuân Dũng            : nt –
18.  Nguyễn Hồ Quỳnh      : nt –
19.  Nguyễn Mỹ Quý         : nt –
20.  Phan Bá Ngọc             : nt –
21.  Hoàng Công Tín         : nt –
22.  Thái Thanh Sơn          : nt –
23.  Lê Minh Châu             : nt – (sau về Học viện Tài chính kế toán)
24.  Đinh Nho Chương       : nt – (sau về Đại học sư phạm)
25.  Lê Thiện Phố              : nt – (sau về UB Khoa học Nhà nước)
(Anh Nguyễn Văn Thiêm không theo học với lớp đến cuối cùng mà 6 tháng trước đã về dạy ở Chu Văn An)

    Còn nhớ một câu nói “kỷ niệm của Cụ Di mà chắc anh em nhớ suốt đời. Khi đọc quyết định phân công, trong quyết định ghi chức danh của anh em được bổ nhiệm là “trợ lý giảng dạy” – chắc là dịch chữ assistant của tiếng Pháp. Tất cả anh em đều thắc mắc:”Tại sao lại gọi là trợ lý? Trợ lý cái gì? Trợ lý cho ai? Nếu gọi là trợ giảng thì phải có ai là giảng viên để chúng tôi trợ chứ. Đằng này một Bộ môn từ trên xuống dưới toàn anh em chúng tôi thì sao lại trợ???” Bây giờ ngẫm lại thì thấy chuyện cũng không có gì lớn nhưng hồi đó anh em ức lắm, làm rất to chuyện…Cụ Di phán luôn một câu :”Si vous voulez être quelqu’un, soyez d’abord quelque chose!” – Các anh muốn mình là AI, thì trước hết mình phải là CÁI GÌ đã-  Thật là sôi tiết! Nhưng rồi cũng qua đi. Về sau, các nhà quản lý đưa ra cái danh hiệu rất “vô thưởng vô phạt” là cán bộ giảng dạy – Tuyệt vời chưa? Danh hiệu này thế mà được chính thức sử dụng đến mấy chục năm đấy, mãi đến khi có điều lệ chức danh giảng viên đại học mới bỏ.


Đây! Đông dương học xá, tiền thân của Đại học Bách khoa Hà Nội,
khi chúng tôi về nó là thế này đây!



           Các bác về mọi nơi , nói chung đã có “mảnh đất cắm dùi”, tức là “có Trường” rồi. Riêng 13 anh (chắc con số 13 xui xẻo) có quyết định về ĐH Bách khoa thì QĐ đề ngày 01/7/1956 nhưng ngày thành lập trường ĐH Bách khoa lại là ngày 15/10/1956 kia! Trường lúc đó chưa có Ban Giám hiệu, chưa có cả văn phòng v..v.. chỉ có một “Ban Tổ chức trường Đại học  và chuyên nghiệp Bách khoa” và mấy gian nhà tập thể ở khu Đông dương học xá cũ…
Ừ nhỉ, thế mà gần nửa thế kỷ trôi qua rồi đấy!
Hôm nay, mở trang Blog này, trông toán quân già đếm thiếu những ai???

Hàng sau: Hoàng Công Tín*, Tô Xuân Dũng*, Nguyễn Đình Trí, Thái Thanh Sơn, Kim Cương, Lâm Khải Bình (về thay Đinh Nho Chương từ 1957)
Hàng trước: Lê Thiện Phố, Trần Xuân Hãn, Nguyễn Mỹ Quý, Tạ Văn Đĩnh, Nguyễn Hồ Quỳnh*, Lê Minh Châu*
Vắng mặt: Phan Bá Ngọc
Đội Bách khoa hiện đã đếm thiếu: Tô Xuân Dũng, Lê Minh Châu, Hoàng Công Tín, Nguyễn Hồ Quỳnh và Phan Bá Ngọc
- Năm 2020 - 2021 thiếu thêm: Nguyễn Mỹ Quý, Tạ Văn Đĩnh

-----------------
DANH SÁCH LỚP SƯ CAO TOÁN LÝ (1953 – 1955)
(QUẢNG TÂY DỤC TÀI HỌC HIỆU  – Khu học xá Trung ương Nam Ninh)

 1.Châu Diêu Ái                                                   2.Lê Khc Bạc                               3.Lê Khc Bảo                                                   4.Ngô Văn Bưu                                     5.Trần Đăng Cát                                                 6.Hoàng Ngọc Cầu 
7 Nguyễn Xuân Chánh                                       8.Lê Minh Châu                     9.Nguyễn Chi                                                    10. Đinh Nho Chương          
11 Nguyễn Minh Chương                                    12.Kim   Cuông                               13 Đinh Ngọc Cử                                                14. Hoàng Doanh          
15.Tô Xuân Dũng                                               16.Phạm   Dự                            17.Đinh Văn Dương                                            18.Đào Nguyên Vọng Đức.      19.Nguyên Đình Hiền                                          20.Trân Quang Hoa        
21.Đăng Xuân Hoài (nữ duy nhất)                        22.Nguyễn Mậu Khai                    23.Nguyễn Ngọc Khuê                                        24.Pham Hoàng Khương         
25. Hoàng Kỳ                                                     26.Đào  Luyện                 
27.Trân Văn Nghĩa                                             28.Nguyên Phú Nhuận     
29.Nguyên Trọng Nhuận                                     30.Lê Thiện Phố                 
31.Lê Phương                                                     32.Phan Thanh Quang             
33. Lê   Quất                                                      34.Nguyễn Quỳ                        35.Đoàn Quỳnh                                                  36.Bùi Ngọc Quỳnh           
37.Lê   San                                                         38.Thái Thanh Sơn                  
39. Lê Băng Sương                                              40. Dương Đình Thanh             41.Phan Văn Thích                                             42.Nguyễn Văn Thiêm        
43.Bùi Lê Thiện                                                  44.Lại Đức Thịnh                       45.Hoàng Hữu Thư                                            46.Đào Đình Thức                   
47. Trần Mậu Thưởng                                         48.Nguyên Đình Trí             49.Nguyên Bá Triêm                                           50.Phạm Viết Trinh      .                  51 .Phạm Trung Trực                                         52. Trần Sĩ Túy                 
53.Ngô văn Vượng                                             54. Bùi Xuyên    





Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2012

Về đất TỔ HÙNG VƯƠNG

Hùng Vương ngày ấy...
Mar 15, 2012 12:14 AMPublicPageviews 57 0



THOẮT ĐÀ SÁU CHỤC NĂM TRỜI




CAO SƠN CẢNH HẠNH
 
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ  Tổ Mồng  mười Tháng Ba
Hằng năm cứ quanh dịp Hội đền Hùng là cái Hội ấy lại tụ tập nhau lại...công việc đầu tiên - quan trọng nhất là ra bản thông báo về tình hình tự động ra khỏi Hội mà không xin phép trong năm qua đã xẩy ra như thế nào?
Cái Hội này ra đời không hề làm lễ kết nạp ai mà  có ngay danh sách 28 Hội viên chính thức rôi vĩnh viễn không kết nạp hội viên mới mà  chỉ có chuyện  là mỗi năm xóa tên vài vị!
Năm nay 2012 này có một ý nghĩa rất quan trọng: Khóa Hùng vương này của chúng ta ra trường năm 1952 đến nay vừa đúng 60 năm - 60 năm, một chu kỳ vũ trụ, một con Giáp - chao ôi nhanh quá nhỉ! -
Ban đầu Trưởng Ban liên lạc Nguyễn Trọng Bảo đã "tâm linh bấm độn"
 được ngày lành tháng tốt vào Thứ Bảy 07/4, nhưng có lẽ tuổi già sức yếu  bấm hơi bị quá tay nên gặp ngày mưa gió tầm tã đành phải quyết định hoãn lại tuần sau. Thế nhưng đúng là một "HỘI" của những con người cổ lai hi của thế kỷ trước - khi mà Công nghệ thông tin chưa ra đời - cho nên việc thông tin quá kém, làm cho hai vợ chồng nhà họ Thái lọ mọ gội mưa mò đến và chỉ thấy một con đường gồ ghề dẫn đến cái hội trường vắng lạnh! Nhưng trong cái rủi có cái may, nhân đó mới có dịp thâm nhập phủ đệ của họ Đoàn (nghe đâu là hậu duệ Nhà Đại Lý ở xứ Vân Nam) và được chiêu đãi cà phê thứ thiệt của Ông trùm cà phê Việt Nam (Nói khẽ nhé - thực ra thì cà phê hơi xoàng kém hẳn cà phê Mai pha theo công thức Madagascar của Ông Thái!)
Thứ Bảy sau, 14/4 thì rõ ràng trời đẹp, mọi người đến khá đông đủ. Có mặt : Nhà Thái, Trọng Bảo, vợ chồng Hồng Minh, Long "khàn", Nguyễn Hoàng Giám, Thạch  "đồ tồi", Quốc Sơn, Nhạn "cà phê", "cựu hoa hậu" Hồng Mai, phu nhân Cát Bình, đặc biệt cảm động là  Vị "oạng" run rẩy lẩy bẩy vưỡn được bà xã áp tải đến : Hoan hô Hương! Kể cả "cựu đại sứ" Nghiêm Hoành tuy không thể đến được nhưng đã ủy nhiệm cho phu nhân tam tứ thứ gọi điện đến...tuy vậy thì cuộc họp cũng chỉ mới có mặt chưa đầy 50%, chắc là không ra được Nghị quyết 2012 quan trọng nào rồi!

Trước tiên Hồng Minh thông báo tình hình sức khỏe của Bùi Đình Hạc và Bùi Đình Đô, tình hình của Trịnh "trọng" Khuê  và Phi Hùng, tiếp đó Trọng Bảo thay mặt Hội mừng thọ 80 (sinh 1932) của 4 đại lão. Sôi nổi nhất là màn "Marketing" trò tâm linh siêu năng lượng của Trọng Bảo nghe rất ly kỳ rụng rốn và phổ biến mấy "tư liệu  quan trọng - phát hiện mới về cội nguồn" của một nhóm các NHÀ nghiên cứu trong dịp đại lễ 1000 Thăng Long nhưng hiện đang bị xếp xó (Thứ này đầy dẫy trên Gúc -gừ nhưng xin nhắc lại, đây là một tổ chức của những nhà trí thức lớn của Thế kỷ trước nên vốn dị ứng với thông tin Internet).
Nhà Thái ngỏ lời mời  (sớm) ngày Lễ sinh nhật đặc biệt - nghìn năm mới có một lần - của mình vào ngày 12 - 12 - 12, anh chị em nhất trí sẽ đến dự đông đảo. Nhân đó có sáng kiến thể theo yêu cầu của các đương sự là năm nay sẽ tổ chức một số cuộc hội ngộ tại nhà của các bạn đi lại khó khăn :
Moise không lên núi được thì núi đến với Moise!
  Trước mắt, khoảng Tháng 8 - tháng 10 sẽ hành quân đến biệt điện của Nghiêm Hoành trước khi dự sinh nhật Thanh Sơn.

Sau bát phở "truyền thống" thế là buổi họp tan, ra về với hy vọng tràn trề là trong dịp họp mặt lần sau có mặt đông hơn và nhất là năm nay danh sách Hội viên chưa phải gạch thêm dòng nào...


Tư liệu:
NGÀY ẤY...BÂY GIỜ...

 
TRƯỜNG THPT HÙNG VƯƠNG
TRƯỜNG HỌC ANH HÙNG TRÊN QUÊ HƯƠNG ĐẤT TỔ


Có nhiều ngôi trường thuộc các cấp, các hệ trên toàn quốc được vinh dự mang tên những danh nhân lịch sử, những anh hùng dân tộc, những lãnh tụ hoặc những chiến sĩ cộng sản v.v... nhưng một ngôi trường có vinh dự đặc biệt được mang tên vua Hùng dựng nước được xây dựng chính tại tỉnh Phú thọ- mảnh đất cội nguồn dân tộc "nơi lịch sử ra đời của nước việt nam" đó là Trường THPT HÙNG VƯƠNG PHÚ THỌ.
Phú Thọ là một miền quê trung du nơi hội tụ của những dòng sông lớn, nơi neo đậu trên bến duới thuyền của bao tình người xuôi ngược bắc- nam. Trường THPT Hùng vương mà cả nước gọi quen gọi với cái tên thân thương, trìu mến: "trường Hùng vương" ra đời từ đầu cách mạng (1-12-1945). trải bao sơ tán trong chiến tranh từ Đông dương - Yên luật (huyện Hạ hòa) sang Tam sơn - Văn bán (huyện Cẩm khê) đến Đông thành - Thanh hà (huyện Thanh ba) trường vẫn về đứng chân phát triển và trưởng thành đúng tại đất thị xã Phú thọ quê nhà. trường có bề dày lịch sử vẻ vang trên chặng đường dài hơn 60 năm, trưởng thành cùng sự trưởng thành của cách mạng và đất nước. trường Hùng vương đã oanh liệt, vững vàng đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược...và 30 năm nay- đất nước trong hòa bình, xây dựng, giương cao ngọn cờ thi đua "hai tốt", trường không ngừng trưởng thành, vươn tới những tầm cao mới, tiếp tục tô đậm thêm những thành tựu lớn lao mà trường đã đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc hơn nửa thế kỷ qua.
Từ mái trường Hùng vương, trên 4 vạn học sinh ra trường, đã và đang chiến đấu, lao động, công tác phục vụ đất nước. hơn 5 nghìn học sinh đã gia nhập quân đội, nhiều người đã anh dũng hy sinh. hàng nghìn học sinh Hùng vương thuộc nhiều thế hệ đã trưởng thành và trở thành những nhà hoạt động danh tiếng, có nhiều cống hiến xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học, giáo dục, văn học- nghệ thuật... từ trung ương đến địa phương trong cả nước.
Trải qua bao chặng đường xây dựng và phát triển, luôn gắn mình trong cao trào cách mạng của mỗi thời kỳ, phấn đấu bền bỉ và không ngừng sáng tạo theo đường lối giáo dục của đảng, trường Hùng vương luôn là điểm sáng của phong trào giáo dục, nhiều năm liên tục đạt danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc, lá cờ đầu của các trường thpt trong tỉnh và của ngành giáo dục phú thọ.
Ghi nhận những thành tựu, cống hiến của trường Hùng vương nhiều năm qua, nhà nước đã tặng thưởng 4 huân chương lao động ( trong đó có 2 huân chương lao động hạng nhất). tháng 11 năm 2002, trường được Bộ Giáo dục & đào tạo cấp bằng công nhận "trường thpt đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001 - 2010" và là một trong ba trường chuẩn quốc gia đầu tiên bậc THPT trong cả nước.
Năm 2004 trường  THPT Hùng vương vô cùng vinh dự, tự hào được nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý "đơn vị anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới".
Danh hiệu anh hùng là một mốc son rạng rỡ trong lịch sử vẻ vang của nhà trường, tô thắm thêm truyền thống của một mái trường mang tên các vua Hùng trên quê hương đất tổ: Trường Hùng vương không chỉ là niềm tự hào, tin yêu của các thế hệ thầy trò Hùng vương mà còn là niềm tự hào, tin yêu của nhân dân Phú Thọ và nhân dân cả nước.

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2012

Có một thời trai...

Mỗi năm một độ Xuân về...
Feb 27, 2012 3:15 AMPublicPageviews 40 0




NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN...


Khi Tổ quốc mịt mù khói đạn,
Có những chàng trai từ giã học đường
...Đi bảo vệ non sông đất nước,
Nhưng họ lại không ra chốn sa trường ...



Trông toán quân về đếm thiếu những ai?




Xa xa phía sau là Tòa nhà Viện Toán
(không "cao cấp" nhưng nhất thiết không phải là thấp cấp!)





Theo sáng kiến của Cụ BIA CỎ Xuânmi42
, mỗi năm một lần "tụ tập"




Tháng năm dù bạc mái đầu...

 

Nhưng còn nhiệt huyết một bầu sục sôi


 BIA + LẠC như những ngày khói đạn..

Ngày mai lại tỏa đi khắp bốn phương trời
Hãy luôn nhớ : Chúng ta là bạn

Vĩnh viễn trong tim gắn bó tình người...


NGÀY ẤY - BÂY GIỜ
Ngày 08/08/1966 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 146/CP thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa
Ngày 28/10/1966, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ công bố quyết định thành lập Phân Hiệu II Đại học Bách Khoa đồng thời khai giảng khóa đào tạo 1 tại Thủ đô Hà Nội. Từ đó tới nay, ngày 28/10 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Nhà trường.
Ngày 18/6/1968, Thủ tướng Chính phủ quyết định đổi tên “Phân hiệu II Đại học Bách khoa” thành trường Đại học KTQS. Ngày 15/12/1981, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện KTQS trên cơ sở trường Đại học KTQS.
Ngày 06/5/1991: Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Đại học kỹ thuật Lê Quý Đôn trên cơ sở Học viện KTQS với 2 nhiệm vụ đào tạo quân sự và dân sự.

Với những thành tích xuất sắc đã đạt được trong gần 45 năm qua và đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, Nhà trường vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu  đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 21/12/2005 và ngày 31/01/2008, được Nhà nước công nhận là một trong 15 trường đại học trọng điểm quốc gia. 

  

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011

Lointains souvenirs...


Dec 18, 2011 2:19 AMPublicPageviews 7 0



LES NUITS D'HIVERS DE TANANARIVE

Jamais, jamais on ne peut oublier de ce longues nuits d'hivers dans la Maison Jaune sur les flancs de Mangarivohitra-Faravohitra...on était noyé dans la brume extérieure et pire, dans la solitude intérieure...Seules les merveilleuses mélodies de Nana Mouscouri et de Mireille Mathieu devenaient le paisible abri que l'on puisse trouver.





Chủ Nhật, 2 tháng 10, 2011

Danh vị Phở sư (Kỳ I)


Sep 23, 2011 1:58 PMPublicPageviews 9 0



Bài sưu tầm trên blog: http://vn.360plus.yahoo.com/sonthai

DANH VỊ PHỞ SƯ (Kỳ I)
Lời nói trước: Đây là một câu chuyện bịa đặt hoàn toàn ngẫu hứng, mọi điều nhắc đến đều chỉ là theo trí tưởng tượng của tác giả, nếu có tình tiết nào trùng tên gọi  với người thật  và việc thật thì đấy chỉ là hoàn toàn ngẫu nhiên ngoài dụng ý tác giả!
Việt Nam là một đất nước nghìn năm văn hiến, trong thời buổi HỘI NHẬP TOÀN CẦU này tiếng thơm của nhiều địa danh, nhiều sản vật địa phương đã bay xa trên toàn thế giới!
Cảnh quan thì có Vịnh Hạ Long, động Phong Nha Kẻ Bàng… đỉnh đỉnh hàng đầu thế giới; sản vật thì có cà phê Buôn Mê Thuật, yến sào Phú Khánh… nổi tiếng khắp nơi, gốm sứ Bát Tràng, lụa hàng Hà Đông… ngày càng được vinh danh hết Festival nọ đến Hội chợ kia…Rồi thì những "kỷ lục Ghi-nét quái thai" như cốc cà phê hàng mét khối, tà áo dài hàng trăm mét, bánh chưng bánh dầy độn xốp, v..v.. cũng góp phần đưa danh và "tai" tiếng (?) của Việt Nam ra khắp toàn cầu.
 


Thế nhưng nổi nhất, vang danh nhất không những trên cả nước mà còn cả toàn cầu, ở mọi nơi có cộng đồng người Việt – và kể cả nhiều nơi không có “người Việt thứ thiệt” - cư trú, là chắc chắn có thứ đó: PHỞ!
Thật đấy: ở Paris 13ème, Little Saigon ở Cali , Cabramata ở Sydney... đầy hàng Phở là chuyện hiển nhiên.
Nhưng có lần tôi lang thang đến Greenwich xa tít ngoại ô London cũng thấy món Phở trong menu của một quán ăn có tên: Saigonese Restaurant. Mừng quá tôi cất giọng gọi: - "Có phở bò tái chín gì không?" – Cô phục vụ - rõ ràng người Châu Á - ngẩn người đáp lại tôi bằng một nụ cười thường trực. Sau đấy Ông chủ quán tươi cười bước ra giải thích bằng một thứ tiếng Anh Chinglish rằng - "Ngộ mậu xếch coỏng Duỵt- Nồm- và" - thì ra họ là Hoa Kiều Chợ Lớn sang đây đã lâu, không ai biết tiếng Việt đâu, thấy món Phở không đụng hàng với ai nên trương biển hiệu mà thu hút du khách vậy thôi!
Xa xôi hơn nữa, còn nhớ năm nào trên sườn đồi cheo leo của thủ đô Antananarivo cổ kính của xứ Madagascar cũng thấy có cái quán: Restaurant Tonkinois - Spécialité: PHO - Soupe Hanoiyenne. Mừng quá, bước vào những mong nghe tiếng nói quê hương nhưng từ chủ quán đến nhân viên đều chỉ nói tiếng Pháp và tiếng Malagasi: Chủ quán là con của một trong những Cụ “pháo thủ khố đỏ Bắc kỳ” - Tirailleurs tonkinois – kẹt lại ở hòn đảo đẹp đẽ ấy từ năm 1944 -45, hồi cuối thế chiến thứ hai.




 


Đến Việt Nam, nhất định là phải nói đến phở: Hà Nội có Phở gia truyền Nam Định, Sài gòn có Phở Hà Nội gốc, đến có cái anh ngoại lai ở đẩu ở đâu về cũng franchising cái mác : Phở 24!

Hàng phở ở Việt Nam nhiều đến nỗi năm xưa có lần một Bà bạn người Úc Melbourne chính cống sang đây làm việc mấy tuần, cùng tôi rong ruổi trên các quốc lộ về địa phương nhiều lần, bỗng một hôm Bà ta nói với tôi: "Này Ông, tôi không học cũng biết được một từ Việt Nam rất quan trọng và cần thiết cho du khách ngoại quốc đến Việt Nam đấy" - "Từ gì vậy???" - "Thì là từ COM PHO đó! Tiếng Việt Nam COM PHO nghĩa là restaurant, đúng không?" Té ra là Bà ta ngồi trên ô tô đi dọc các quốc lộ thấy rất nhiều biển đề COM PHO và mỗi lần chúng tôi ghé vào ăn uống dọc đường đều vào các quán có biển đó: Vậy đích thị COM PHO là quán ăn - restaurant - còn gì!

Phở thật là quan trọng, đúng là biểu tượng Việt Nam ! Có thể nói trên thế giới người ta biết đến Phở rất nhiều chứ mấy ai biết đến Truyện Kiều! (Mà ông bạn xấu tính vĩ đại của chúng ta lại còn cho Truyện Kiều là “hàng đạo” của họ, nhất thiết không công nhận Nguyễn Du là danh nhân văn hóa UNESCO, chứ còn như Phở… thì họ đành cúi đầu công nhận, chưa thấy có chuyện đăng ký bảo vệ thương hiệu Phở Koỏng-tống hay là Phở Hốc-kín gì cả!)

Nhân tài là nguyên khí quốc gia” – lời người xưa nói cấm sai! Vì  Phở đã có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế như vậy, tại sao lại không “vinh danh” những “nhà hàng phở tài ba” cho nó xứng đáng?
Chắc là nhận thức được tầm quan trọng đó cho nên mới đây Nhà nước ta chủ trương định ra một chức danh cao quý cho ngành phở: Chức danh PHỞ SƯ và PHÓ PHỞ SƯ.
Năm 2020 nhân dịp Lễ hội 1010 năm Thăng Long, tổ chức Hội đồng cấp quốc gia phong tặng danh hiệu đợt 1. Vì đấy là một danh hiệu cao quý, người được phong phải đạt được nhiều tiêu chí rất cao nên trong đợt một chỉ phong được có mấy Phở sư như các Phở sư Tư Lùn, Phở sư Thìn Bờ Hồ, Phở sư Bát Đàn… mấy vị gia truyền Nam Định, phở Pasteur Sài gòn, Nam Ngư, Tạm Thương …chỉ đạt tiêu chuẩn Phó Phở sư cũng đã là một niềm vinh dự to lớn. Tất nhiên là từ đó về sau các PS và PPS đều ngay lập tức in danh thiếp:

   Phó Phở sư Trần thị Y, Chủ quán Phở gia truyền
  Phở sư Nguyễn Văn X, bếp trưởng Nhà hàng ABC…

Chủ trương đúng đắn của Nhà nước được mọi người dân nhiệt liệt hoan nghênh: Người được phong thì hãnh diện, tự hào, ra sức  làm việc phục vụ khách hàng sao cho khỏi phụ kỳ vọng của Nhà nước và nhân dân, người chưa được phong thì phấn đấu học hỏi nghiên cứu chế biến nâng cao ngành Phở mong đến đợt sau được xét. Người dân – khách hàng –  cũng rất tin tưởng và quý trọng các vị Phở sư, Phó phở sư; quán nào có một vị PS hay PPS chủ trì thì ngày đêm khách đông nườm nượp đuổi đi không hết. (Cho nên Hà Nội mới có tiếng là có những hàng PHỞ QUÁT, PHỞ ĐUỔI vậy).

Xem tiếp Kỳ 2

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Danh vị Phở sư (Kỳ II)






DANH VỊ PHỞ SƯ (Kỳ 2)

Thời gian thấm thoắt như bóng câu qua cửa sổ…mới đó mà đã được 3 kỳ phong danh hiệu Phở sư, Phó Phở sư kể từ lần phong đầu tiên hồi kỷ niệm 1010 năm Thăng Long. Trong xã hội bắt đầu quen với một thứ tiếp đầu ngữ - préfixe - nghe có vẻ cao quý trang trọng nhưng lại thân thương đáng mến và đáng tin cậy hơn nhiều lần so với những từ đi trước tên họ xưa nay thường gặp trong xã hội như : Đòng chí Chủ tịch X, đồng chí Bí thư Y, đồng chí Cục trưởng Z, đồng chí Giám đốc T v..v..
- Xin trân trọng giới thiệu Phở sư, Tổng giám đốc U,,,
vỗ tay rào rào,… những ánh mắt thán phục…
Mười năm qua, một số Phở sư có kinh nghiệm và có trình độ quản lý chuyển sang làm phụ trách những Cửa hàng Phở, những Tổng quán phở lớn, nổi tiếng đã chứng tỏ việc quản lý của những người có trình độ và uy tín, năng lực trong chuyên môn phở khác hẳn với một số “nhà” quản lý trước đây chỉ nặng về hô hào “Phấn đấu, Tiến lên!”.
Và khi đó bắt đầu xuất hiện một số danh thiếp:
  Giám đốc, Phở sư Lê văn T
  Cục trưởng, Phó Phở sư Hồ thị Z
Các vị lãnh đạo mà danh thiếp có thêm chút PS, PPS thì được cấp dưới, kể cả các ông, bà, anh chị có mác PS, PPS tôn trọng hơn nhiều, không dám xấc xược coi mình là kẻ chức to quyền lớn nhưng trình độ hơi lùn … cấp ngang và cấp trên cũng có bề nể nang.



Cái danh hiệu PS, PPS tưởng chỉ là một sự ghi nhận, đánh giá trình độ về một ngành nghề trong xã hội mà thôi, nay trở thành một loại hàng quý hiếm, một thứ trang sức khó kiếm!
Theo dòng thời gian, càng  ngày cái danh hiệu tưởng như chỉ có tính chất tinh thần đó lại thể hiện thêm những giá trị vật chất cực kỳ quan trọng.
Thứ nhất: Phàm bất cứ ngành nghề gì – tất nhiên có vài ngoại lệ trên chốn cao, cao lắm – thì cũng đến tuổi về hưu. Với anh nhân viên quèn thì nam 60 tuổi nữ 55 được về hưu là chuyện may mắn vì thực ra lúc đó còn sức khỏe, quỹ thời gian còn kha khá nên có thể tạo dựng một “sự nghiệp” cuối đời nào đó. Anh/chị tháo vát, có đồng vốn còm, có tí quan hệ thì mở kinh doanh nhỏ, thu nhập có khi còn hơn thuở đi làm 3 cọc 3 đồng. Mấy ông/bà nhà giáo mát tay thì lúc về hưu mới là lúc phát huy công sức cực đại, trong thời buổi nhà trường là thị trường này thực là chối đi không hết việc! Ông/bà nào kinh tế rủng rỉnh, con cái thành thân rồi, ung dung không âu lo kinh tế thì  ở tuổi đó vẫn còn sức khỏe mà tham gia kính thưa các kiếu câu lạc bộ bù khú: đánh cờ, chơi cảnh, câu cá v..v..



Thế nhưng với các vị có chức có quyền (hệ quả là có lộc, có tiền) thì về hưu sớm là một tai họa quá lớn, nấn ná được ngày nào là hưởng thêm, kiếm thêm ngày ấy. Vì vậy rất rất nhiều vị đến lúc sắp về hưu thì mới thấy có vấn đề lý lịch cần xác minh tuổi tác tụt đi tụt lại đâm ra nhiều trường hợp trong lý lịch Ông anh bà chị lại sinh sau em út đến vài ba năm là chuyện thường!
Vậy mà Nhà nước lại có chủ trương rõ ràng là những người có danh vị PS, PPS thì đương nhiên được – hay bị - kéo dài tuổi cống hiến dăm ba năm: chuyện này với các vị có chức có quyền quả là quá hay ho.
Thứ hai: Trong thời buổi xã hội hóa ăn uống này, các nhà hàng, quán phở tư nhân mọc ra như nấm (nghe đâu dưới 4 năm chấp chính của một ngài Tổng trưởng Bộ Ăn uống, chỉ trong 3 năm mà số cửa hàng Cao đẳng Phở và Đại hiệu Phở dân lập và tư thục trong cả nước tăng gấp 10 lần hàng mấy chục năm trước đó).
Mở hàng ăn tất nhiên phải có vốn, có quan hệ: cái này các quan không thiếu. Thế nhưng phải có một cái Hội đồng sáng lập rồi Hội đồng Ăn uống học v..v.. cái này nhất thiết phải tìm được một số người có danh hiệu cao như Phở sư, Phó Phở sư đưa vào thì mới có trọng lượng!
Danh vị PS, PPS có giá trị "qui ra thóc" là như vậy đó!
  
Đón xem kỳ 3 - Phần kết


Thứ năm, ngày 22 tháng chín năm 2011

Danh vị Phở sư (Kỳ III)


Sep 29, 2011 12:26 AMPublicPageviews 14 0



DANH VỊ PHỞ SƯ (Kỳ 3)

Vậy là danh hiệu PS, PPS đã thực sự thể hiện giá trị vật chất cụ thể trong xã hội (nghĩa là qui được ra hào). Nhu cầu “kiếm được” cái mác PS, PPS ngày càng tăng.
Theo nguyên lý của kinh tế thị trường, phàm có cung thì ắt có cầu, danh hiệu PS, PPS đã trở thành một mặt hàng có giá thì tất nhiên có nhu cầu rộng rãi, và đã có nhu cầu thì ắt có những người, những tổ chức, những tập đoàn, bí mật hoặc bán công khai, đẩy mạnh nghiên cứu tạo ra những phương án nhanh chóng rút ngắn qui trình sản xuất những mặt hàng đó.
Theo qui định Nhà nước, muốn đạt danh hiệu PS, PPS có những tiêu chí “cứng” và những tiêu chí “mềm”. 



Một Phở sư chân chính hiếm hoi...

Tiêu chí mềm là việc bỏ phiếu, đồng thuận ở các cấp Hội đồng: Hội đồng cấp cơ sở, cấp ngành và cấp Nhà nước. “Không có việc gì khó!” Người Tầu xưa có câu tục ngữ: Nhiều tiền thì có thể sai quỷ kéo cối xay! Các tổ chức, tập đoàn không những có tiền lại có siêu quyền lực thì không phải chỉ có quỷ mà đến thần thánh phật tiên cũng sai khiến được huống chi là các Hội đồng. Ủy viên Hội đồng thì cũng là con người mà đã là người thì ai cũng có thất tình lục dục, mà dù cho có vài gã ủy viên “dở hơi” nào đó đi ngược lại với cơ chế thị trường – nghĩa là cơ chế mua bán trao đổi – thì các gã ấy cũng  có vợ con, anh chị em v..v.. vưỡn là con người thực tế như bao người khác. Cuối cùng, nếu không thể điều khiển được họ thì … quá đơn giản: vô hiệu hóa bằng cách…đưa họ ra khỏi danh sách ủy viên Hội đồng, bằng cách điều động họ sang một vị trí long trọng ngồi chơi xơi nước… Hoặc cũng có thể dễ dàng chuyển các ứng viên đương sự sang những Hội đồng “thích hợp” mới thành lập khác! Trong những năm gần đây có nhiều vụ việc các quan nào đó phải chọn “gửi” vào những Hội đồng thích hợp để bỏ phiếu xét duyệt, chọn được Hội đồng toàn “chiến hữu”  thì mọi việc đều là chuyện muỗi. Lại có chuyện, có quan không thấy được cửa nào trơn tru, nhân lúc mới về một nhà hàng mới nào đó liền ra sức lobby để Nhà hàng của mình được quyền thành lập Hội đồng cấp cơ sở và thế là tất nhiên thành phần Hội đồng đó toàn do mình mời trình lên cấp trên duyệt: cửa ấy mà còn lo gì chui không lọt?


Đại hiệu Phở dân lập thời mở cửa...

Bây giờ mới nói đến các tiêu chí cứng. Không hiểu đứa phải gió nào, nghĩ thế nào mà lại đưa là những tiêu chí thật là khó chịu như thế? Tiêu chí đầu tiên là trình độ ngoại ngữ. Nhận thức rằng Ăn uống học cần được phát huy giao lưu quốc tế nên nhất thiết PS, PPS phải có vài ba ngoại ngữ đạt trình độ B (hạng B là cao hơn hạng A chứ không phải viết tắt chữ hạng BÉT đâu) hoặc trình độ C (cấm nghĩ tục C…!). Đến nỗi năm nảo năm nào đó báo chí đăng là có “nhà ăn uống học” vào diện ứng viên xét PS, PPS đã văng ra: “Mẹ kiếp! Xét danh hiệu PS, PPS mà bắt phải Ai- eo với lại Top- pheo thì bằng đánh đố con nhà người ta. Mà hãy chống mắt lên mà xem: bên Mỹ, bên Tây nó phong Xúp-sư có yêu cầu biết tiếng Việt tiếng Tầu đâu?”. Nhưng tiêu chí này rồi cũng nhanh chóng được giải quyết êm đẹp: Có cái “trình độ” ngoại ngữ thì quá khó chứ có cái “Chứng chỉ ngoại ngữ B, C, D, …Z” của Bộ Học cấp thì chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ! (Chính vì thế mà về sau nhiều vị PS, PPS khi giao tiếp với khách hàng quốc tế nhiều thường bị sái cổ sái tay vì phải sử dụng ngôn ngữ hình thể quá nhiều!)
Một tiêu chí thứ hai là: Muốn dự xét danh hiệu PS, PPS phải có số giờ nấu bếp phở thực tế là 120 tiết, 240 tiết gì đấy. Cái này đối với dân hàng phở chính cống thì là chuyên buồn cười, vô nghĩa, nhưng đối với một vị Giám đốc Công ty ăn uống, Cục trưởng, tổng trưởng…thì lại là chuyện khá khó! Nhưng cái khó ló cái khôn: Mấy năm gần đây người ta thấy rất nhiều quan Giám, quan Cục, quan Tổng thường về thăm các hàng phở, tập hợp nhân viên nói vài câu, xuống bếp dòm nom nồi nước phở một lúc và trước khi ra về có thư ký đến đưa cho Chủ cửa hàng một Giấy chứng nhận đã “trực tiếp tham gia nấu phở  5 tiết, 10 tiết …”: Bố chủ cửa hàng nào lại dám không ký? Mà có ký thì cũng mất gì của Bọ? Vậy là tiêu chí này cũng nhanh gọn được giải quyết!
Tiêu chí thứ ba thì có phức tạp hơn: đấy là xét “công trình nghiên cứu về Phở học”.Để giải quyết tiêu chí này phải có thời gian đầu tư lâu dài, không phải chỉ một sớm một chiều. Băng mọi con đường thông thường mà ai cũng biết, chỉ cần chạy đến  Ông/Bà nào có chức có quyền, đề xuất một số đề tài cấp Nhà nước, cấp Tổng… rồi ghi tên ứng viên là Chủ trì, những tay hàng phở chính cống thực hiện đề tài thì ghi vào danh sách tham gia: thế là có đề tài, có bài đăng Tạp chí Phở học, có cái để tính điểm. Các Đại hiệu Phở, các Phở viện cấp tập cho ra lò những Hiền sĩ Phở học với hàng loạt đề tài nghiên cứu sâu sắc đại loại như:
-         Giải pháp hâm phở cho bếp tập thể
-         Nghiên cứu về tác dụng của nước hầm xương đối với Sự phát triển xã hội ở Thế kỷ 22
-         Nghiên cứu về phooc-môn trong bánh phở v..v..
Thời gian cứ thế trôi qua, sự nghiệp Phở ngày càng phát đạt, đến quãng năm 2030 thì theo thống kê, số PS, PPS trong cả nước đã lên đến trên 9000 vị, xem ra số PPS, PS của Đại Việt ta đứng đầu A-xi-an, cao hơn Thái Lan, Phi-lip-pin, In-đô- nê-xi-a, các nước bé con con như Singapo, Malai, Bru-nây không thèm so, còn lại Lào, Căm-pu-chi, Miến Điện thì quên đi!
Thật là quang cảnh: Ra ngõ gặp PS, bật Ti vi thấy PS.
Những danh thiếp ngày càng dài thêm:
Phở sư, Hiền sĩ phở học, Hàng phở nhân dân – Tổng giám đốc Lê Văn X
Phó Phở sư, Hiền sĩ phở học, Hàng phở ưu tú, Cục trưởng Bùi thị Y
Mà rồi trong các lực lượng vũ trang cũng có ăn uống, cũng có nấu phở chứ!…Lại xuất hiện những danh thiếp dài hơn nữa:
Phó Phở sư, Hiền sĩ phở học, Hàng phở ưu tú, Thiếu tướng Cục trưởng Trần Văn Z
Gần đây, có người tẩn mẩn, thống kê số PS, PPS hiện đang làm việc ở MỌI hàng phở trong cả nước (kể cả những PS, PPS là Cửa hàng trưởng, Bí thư Cửa hàng chứ không nấu phở - và có thể cũng không biết nấu phở -) thì chỉ có gần 3000. 

Quái lạ! Số còn lại gần 70% chẳng hay còn nấu phở NƠI NEO? Hay là chảy máu chất...béo sang Mỹ sang Tây cả rồi?



Vì vậy mới có mục Rao vặt:

                                                Tìm PS, PPS lạc!
Hết